Thuốc chống viêm là gì? Thuốc chống viêm không steroid sử dụng như thế nào?

Thuốc chống viêm là gì?

Thuốc chống viêm là thuốc được sử dụng để điều trị các chứng viêm. Thuốc chống viêm có 3 loại như sau:
+ Thuốc chống viêm không Steroid

+ Glucocorticoid

+Thuốc chống viêm thực vật

Thuốc chống viêm tác động vào con đường sinh hoá vào quá trình viêm.

Thuốc chống viêm không steroid sử dụng như thế nào?

Khái niệm về thuốc chống viêm không steroid

Steroid là loại thuốc chống viêm có tác dụng hạ sốt, giảm đau và chống viêm không có cấu trúc steroids, nó không có tác dụng gây nghiện.
Các loại thuốc trong nhóm này gồm: aspirin, ibuprofen, diclofenac, và naproxen, được sử dụng rộng rãi trong điều trị từ lâu. Chúng ta cần lưu ý rằng Paracetamol (acetaminophen) có tác dụng chống viêm không đáng kể, nhưng nó lại có tác dụng hạ sốt và giảm đau rất tốt, nên đôi khi  nó vẫn được xếp trong nhóm này.

Tác dụng và cơ chế tác dụng của thuốc chống viêm không steroid

1. Thuốc chống viêm không steroid giúp hạ sốt

Đặc điểm của thuốc là :
+ Ở những người bình thường thuốc không gây hạ thân nhiệt .
+ Thuốc chỉ có thể điều trị triệu chứng. 
Cơ chế của thuôốc như sau:
Khi các loại vi khuẩn, nấm, độc tố…(gọi là chất gây sốt – pyrogen ngoại lai) xâm nhập vào cơ thể chúng ta sẽ kích thích bạch cầu sản xuất các chất gây sốt nội tại. Chất này sẽ hoạt hóa men cylo-oxygenase (COX), sau đó làm tổng hợp PG (nhất là PG E1 và E2) từ acid arachidonic của vùng dưới đồi. Và PG sẽ gây sốt do làm tăng quá trình tạo nhiệt (rung cơ, tăng hô hấp, tăng chuyển hóa) và sau đó làm giảm quá trình thải nhiệt (co mạch da…). Cuối cùng thuốc hạ sốt do ức chế COX làm giảm tổng hợp PG do đó làm giảm quá trình gây sốt nên có tác dụng hạ sốt. 
Thuốc sẽ làm tăng quá trình thải nhiệt như: giãn mạch da, tăng tiết mồ hôi, và sẽ không tác dụng trên quá trình sinh nhiệt.

2.Thuốc chống viêm steroid có tác dụng chống viêm.
Đặc điểm của thuốc là:
+ Thuốc sẽ tác dụng lên hầu hết các loại viêm không kể nguyên nhân.
+ Chỉ ở liều cao, thuốc mới có tác dụng chống viêm.
+ Thuốc này cũng có tác dụng lên thời kỳ đầu của quá trình viêm.
Cơ chế của thuốc như sau:
Thuốc sẽ có tác dụng ức chế sinh tổng hợp PG do ức chế men cyclo-oxygenase (COX) làm giảm tổng hợp PG.
Thuốc này còn làm bền vững màng lysosom do đó cũng hạn chế giải phóng các enzyme của lysosom trong quá trình thực bào, nên thuốc có tác dụng chống viêm.
Bên cạnh đó, thuốc còn có tác dụng ức chế các chất trung gian hóa học của quá trình viêm như các kinin huyết tương, thuốc còn ức chế cơ chất của enzyme, sự di chuyển của bạch cầu và ức chế phản ứng kháng nguyên – kháng thể.
Đối với nhóm salicylat làm tăng giải phóng steroid vì vậy làm tăng tác dụng chống viêm.
Các thuốc có tác dụng chống viêm khác nhau, lấy aspinrin làm chuẩn thì Voltaren, Flurbiprofen, Indomethacin thì có tác dụng chống viêm mạnh gấp 10 lần, Còn đối với Naproxen, Piroxicam,Pirprofen gấp từ 6,5 – 4,9 đến 3,9 lần. 
Chúng ta có thể sắp xếp hiệu lực chống viêm của các thuốc theo thứ tự của chúng với liều trung bình như sau: Indometacin > Flurbiprofen > Voltaren > Pirocicam > Pirprofen > Ketoprofen > Naproxen > Butadion > Analgin > Amidopyrin >Aspirin.

3. Thuốc chống viêm steroid có tác dụng giảm đau.
Đặc điểm của thuóc như sau:
+ Thuốc sẽ tác dụng lên các cơn đau nông nhẹ, sau đó khu trú hoặc lan tỏa như đau đầu, đau cơ, đau răng, đau khớp. Thuốc có tác dụng tốt đối với đau do viêm. Đối với các cơn đau nội tạng như morphine thuốc không có tác dụng.
+ Thuốc này không có tác dụng gây ngủ, không gây khoái cảm và  không gây nghiện.
Cơ chế của thuốc như sau:
 Thuốc giúp giảm tính cảm thụ của các ngọn dây cảm giác với các chất gây đau của phản ứng viêm như bradykinin, histamin, serotonin vì thuốc làm ức chế tổng hợp PGE2α.
Thuốc cũng có tác dụng giảm đau của thuốc NSAIDs liên quan mật thiết với tác dụng chống viêm.
Ngoài ra tác dụng giảm đau của các thuốc Voltaren, Flurbiprofen, Indomethacin mạnh gấp 6-31 lần so với Aspirin.
Tác dụng giảm đau của thuốc với liều trung bình được xếp theo thứ tự như sau: Voltaren > Indomethacin > Flurbiprofen > Analgin > Amidopirin > Piroxicam > Pirprofen > Naprofen > Naproxen > Ibuprofen > Butadion > Aspirin > Ketoprofen.

4. Thuốc chống viêm steroid chống ngưng kết tiểu cầu và chống đông máu của thuốc.
Trong màng tiểu cầu của con người có chứa nhiều thromboxan synthetase là enzyme chuyển endoperocyd của PGG2/H2 thành thromboxan A2 (chỉ tồn tại trong 1 phút) nó có tác dụng làm đông vón tiểu cầu. Song ở tế bào nội mạc lại có prostacyclin synthetase là enzyme tổng hợp PGI2 (prostacyclin) giúp đối kháng với thromboxan A2. Vậy nên tiểu cầu chảy trong thành mạch bình thường không bị đông vón. Sau khi nội mạc mạch bị tổn thương thì PGI2 giảm, tiểu cầu tiếp xúc với nội mạc bị tổn thương sẽ giải phóng ra thromboxan A2 đồng thời phóng ra các giả túc làm dính các tiểu cầu lại với nhau, người ta gọi đó là hiện tượng ngưng kết tiểu cầu làm cho máu đông lại.
Aspirin ở liều thấp (0,3-1g) sẽ làm ức chế mạnh cyclo-oxygennase của tiểu cầu, nó làm giảm tổng hợp thromboxan A2 (chất làm đông vón tiểu cầu) nên cũng có tác dụng chống kết tập tiểu cầu và chống đông máu. Liều cao (>2g) lại ức chế COX của thành mạch sẽ làm giảm tổng hợp PGI2 (prostacyclin – là chất chống đông vón tiểu cầu) nên nó có tác dụng ngược lại làm tăng kết tập tiểu cầu và tăng đông máu.nhưng tác dụng chíh là làm giảm thromboxanA2 .

Tác dụng không mong muốn của thuốc chống viêm steroid

+ Thuốc sẽ làm rối loạn dạ dày – ruột
+ Đối với hệ tiết niệu.
Thuốc sẽ làm giảm lưu lượng máu nuôi thận, giảm mức lọc cầu thận, còn có tác dụng giải phóng các renin và ảnh hưởng tới việc di chuyển ion và trao đổi nước vìvậy sẽ gây nên các rối loạn chức năng tiểu cầu thận, viêm thận mô kẽ, gây ra hoại tử nhú thận, dẫn đến suy thận cấp và tăng kali máu.
+ Đối với hệ huyết học.
Thuốc gây ra hội chứng xuất huyết, làm kéo dài thời gian chảy máu, có thể gây ra hiện tượng xuất huyết dưới da do ức chế ngưng kết tiểu cầu.
+ Đối với thai phụ.
Thuốc dễ gây quái thai ở 3 tháng đầu, còn ở 3 tháng cuối tác dụng phụ của thuốc có thể làm tăng thời gian mang thai vì ức chế PGE, PGF (là chất gây tăng co bóp tử cung), đồng thời cũng có thể ảnh hưởng chức phận của thai nhất là tuần hoàn và hô hấp.
+ Trên hệ thần kinh: Tác dụng phụ của thuốc có thể gây ù tai, điếc thoáng qua hoặc say thuốc.
+ Trên hệ tim mạch: các thuốc gây ức chế COX-2 và khi sử dụng liều cao các thuốc NSAIDs truyền thống sẽ có nguy cơ gây nhồi máu cơ tim.
Thuốc có thể gây dị ứng, gây cơn hen giả, rối loạn chức năng gan và rối loạn về máu theo kiểu nhiễm độc tế bào (mất bạch cầu hạt). Thậm chí nguy hiểm hơn có thể gây suy tủy.

Nguyên tắc khi sử dụng thuốc chống viêm không steroid- NSAIDs

-Chúng ta nên bắt đầu bằng loại thuốc có ít tác dụng không mong muốn nhất, đặc biệt thận trọng ở các đối tượng có nguy cơ: tiền sử dạ dày, tim mạch, dị ứng, suy gan, suy thận, người già, phụ nữ có thai… và chỉ định thuốc dựa trên sự cân nhắc giữa lợi và hại khi dùng thuốc.

– khi bắt đầu sử dụng thuốc chúng ta cần bắt đầu bằng liều thấp nhất, không uống quá liều tối đa và duy trì liều tối thiểu có hiệu quả. Nên dùng thuốc trong thời gian ngắn.

– Đối với các bệnh tai biến dạ dày, gan, thận, máu, dị ứng cần theo dõi thường xuyên.

– Chúng ta không được sử dụng đồng thời hai hoặc nhiều thuốc chống viêm không steroid, vì khi kết hợp như vậy các thuốc trong nhóm sẽ không tăng hiệu quả mà gây tăng tác dụng không mong muốn. 

– Đối với đường tiêm bắp không dùng quá 3 ngày. Chúng ta nên dùng đường uống do thuốc được hấp thu dễ dàng qua đường tiêu hóa. Mỗi thuốc sẽ có dạng bào chế riêng, đa số các thuốc uống khi no song một số thuốc có thời gian uống theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Ví dụ như thuốc Voltaren SR: uống sau ăn 1h, chứ không được uống lúc no như các loại diclofenac khác

– Chúng ta cần kết hợp với thuốc giảm đau (nhóm paracetamol) và cố gắng điều trị nguyên nhân gây bệnh (điều trị đặc hiệu, điều trị cơ bản bệnh,có thể kết hợp nhóm DMARDs- Disease-modifying antirheumatic drugs đối với một số bệnh khớp tự miễn).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *